Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố về mô hình bệnh tật người cao tuổi tại Hải Phòng
Đăng ngày 25/02/2021
Chiều 24/02/2021, tại Sở Khoa học và công nghệ Hải Phòng, Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố do GS.TS. Phạm Văn Thức – Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, cùng các ủy viên Hội đồng, là các nhà khoa học, quản lý trong lĩnh vực y tế đã tiến hành đánh giá, nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu mô hình bệnh tật người cao tuổi tại Hải Phòng, các yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp” do TS.BSCKII. Phạm Thu Xanh – Nguyên Giám đốc Sở Y tế Hải Phòng làm Chủ nhiệm đề tài.

Chiều 24/02/2021, tại Sở Khoa học và công nghệ Hải Phòng, Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố do GS.TS. Phạm Văn Thức – Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Hải Phòng, cùng các ủy viên Hội đồng, là các nhà khoa học, quản lý trong lĩnh vực y tế đã tiến hành đánh giá, nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu mô hình bệnh tật người cao tuổi tại Hải Phòng, các yếu tố liên quan và đề xuất giải pháp can thiệp” do TS.BSCKII. Phạm Thu Xanh – Nguyên Giám đốc Sở Y tế Hải Phòng làm Chủ nhiệm đề tài.

Đề tài được thực hiện với mục tiêu: Xác định được mô hình bệnh tật của người cao tuổi (NCT) tại Hải Phòng; đánh giá những yếu tố liên quan ảnh hưởng đến mô hình bệnh tật NCT, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp nhằm nâng cao sức khỏe cho cộng đồng, kéo dài thời gian sống khỏe cho NCT tại thành phố Hải Phòng.
Mô hình bệnh tật là kết cấu phần trăm các nhóm bệnh và tử vong của các bệnh trong khu vực vào giai đoạn đó. Năm 2008, Lê Văn Tuấn và Nguyễn Hải Hằng nghiên cứu mô hình bệnh tật ở người cao tuổi điều trị tại Viện Lão khoa thấy: ở NCT nhóm bệnh tuần hoàn chiếm tỉ lệ cao nhất (36,9%), nhóm bệnh nội tiết (6.8%), nhóm bệnh sinh dục, tiết niệu (6.4%), nhóm bệnh khối u (6.4%)… Thói quen lối sống như ăn mặn, hút thuốc làm tỉ lệ tăng cân và béo phì cũng gia tăng ở NCT.
Đề tài nghiên cứu của thành phố được thực hiện năm 2020 tại 30 cụm dân cư, của 30 xã/phường thuộc 13 Quận huyện của thành phố Hải Phòng, với 5.286 NCT tham gia nghiên cứu; số nam chiếm 30,65%, nữ là 69,35%; nhóm tuổi 60-69 là 56,9%; nhóm 70-79 là 30,7%; nhóm 80-89 là 11,6%, nhóm >90 là 0,76%. Tuổi trung bình 68,68 ± 7,69.
Sau khi được khám, tư vấn, làm các thăm dò cận lâm sàng, kết quả cho thấy:
- Cân nặng trung bình của NCT là 52,83 ± 8,63 kg, nam giới 53,49kg, nữ giới 51,94kg; Chỉ số BMI trung bình là 21,95 ± 3,03; thiếu cân ở nam là 12,66%, nữ là 11,18%; thừa cân ở nam 35,88%, nữ là 33,07%.
- Số NCT đang hút thuốc lá 11,6%, nam 19,85%, nữ 7,95%; Số NCT sử dụng rượu bia là 99,3%; dùng rượu bia thường xuyên là 16,68%; số NCT có hoạt động thể lực thường xuyên 75,82%. Số có yếu tố mắc bệnh nghề nghiệp là 36,51%. Số năm trung bình có tiếp xúc với bệnh nghề nghiệp là 24,04 năm.
- Số NCT có kết quả xét nghiệm bất thường: siêu âm 42,63%, X-quang 76,58%, điện tâm đồ 10,1% và nước tiểu 45,63%.
- NCT tiền sử có bệnh tật là 57,15%, nghiên cứu chẩn đoán phát hiện thêm 40,56% NCT có bệnh; tỷ lệ NCT mắc bệnh là 97,71%; số bệnh mắc trung bình ở NCT là 3,12 bệnh. Trong đó, nhóm tuổi 80-89 tuổi có số bệnh mắc nhiều nhất là 3,21 bệnh. Người có số bệnh nhiều nhất là 12 bệnh; Bệnh có tỷ lệ mắc cao nhất, có liên quan đến lão hóa: thoái hóa khớp (56,71%) và đau lưng (47,75%).
- Tỷ lệ không mắc bệnh cao nhất ở nhóm huyện đảo 8,19%, ở huyện 2,91%, thấp nhất là nhóm ở quận 0,99%; nhóm tuổi 60-69 trung bình mắc 3,11 bệnh, nhóm 70-79 là 3,12 bệnh, nhóm 80-89 là 3,21 bệnh, nhóm >90 là 3,07 bệnh.
- Theo phân loại ICD10, NCT mắc bệnh hệ tuần hoàn chiếm tỷ lệ cao nhất 53,46%, tiếp đến là mắc bệnh về hệ tiêu hóa 45,57%; mắc bệnh nội tiết chuyển hóa 35,19%; mắc bệnh hệ cơ xương khớp và mô liên kết là 25,84%; mắc bệnh về mắt 24,37%; mắc bệnh hệ hô hấp với 15,83%; mắc bệnh ung thư chiếm 5,81%, thấp nhất là nhóm mắc bệnh nhiễm trùng và KST là 3,35%.
- NCT nữ giới mắc bệnh cao hơn nam ở các bệnh: bệnh nội tiếp chuyển hóa (38,33% và 28,09%), bệnh đục thủy tinh thể (20,33% và 18,38%); thoái hóa khớp gối (7,13% và 5,87%), đau lưng (2,51% và 0,92%).
- NCT nam giới mắc bệnh cao hơn nữ ở các bệnh: bệnh hệ tuần hoàn (57,1% và 51,85%); bệnh về hệ tiêu hóa (47,16% và 44,87%). bệnh tăng huyết áp (44,16% và 38,58%); bệnh phổi TNMT (3,79% và 1,97%); u lành tính (6,73% và 4,75%); bệnh Gút (4,04% và 1,22%), sỏi thận (7,54% và 5,87%).
- Một số yếu tố liên quan về giới tính, thói quen uống rượu bia, hút thuốc lá, ít hoạt động thể lực, thừa cân có liên quan đến bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, đục thủy tinh thể có ý nghĩa thống kê (p < 0,05, test χ2).

Từ kết quả nghiên cứu, các tác giả đề xuất giải pháp phòng ngừa can thiệp bằng: tuyên truyền cộng đồng để cộng đồng và NCT hiểu rõ các yếu tố nguy cơ và thực hành thói quen tốt, loại bỏ thói quen có hại cho sức khỏe, đi khám bệnh định kỳ 6 tháng/1 lần. Cần có sự quan tâm đầu tư hơn đến sức khỏe của NCT, nữ giới, người không có chế độ hưu trí, người có học vấn thấp, người ly hôn/góa, người nghèo. Cần thành lập cơ sở khám chữa điều trị bệnh lão khoa, trung tâm dưỡng lão cho NCT, Khoa Lão khoa ở BV đa khoa, BV Lão khoa. Nâng cao năng lực của các cơ sở y tế tuyến cơ sở, nhất là các trạm y tế xã/phường trong việc dự phòng, điều trị và quản lý sức khỏe đối với NCT mắc các bệnh mạn tính.

Qua nghe báo cáo kết quả nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả, Hội đồng thẩm định đã đánh giá cao tính thực tiễn của đề tài, những kết quả nghiên cứu mang lại và khả năng ứng dụng nhằm cải thiện tình trạng sức khỏe, hướng tới bình đẳng/công bằng trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của NCT tại Hải Phòng nói riêng và NCT Việt Nam nói chung, đặc biệt là các đối tượng NCT có điều kiện sống, sinh hoạt chưa đảm bảo. Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo, triển khai nhân rộng mô hình nghiên cứu hoặc thí điểm cho giải pháp can thiệp cộng đồng trong thời gian tới. Hội đồng nghiệm thu nhất trí đánh giá Đề tài đạt mức Xuất sắc và đề nghị nghiệm thu Đề tài.





