Theo Trung tâm Kiểm soát bệnh tật, kết quả đánh giá nguy cơ bệnh Sốt xuất huyết Dengue trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2026 hiện ở mức cao.
Cán bộ Trung tâm Kiểm soát bệnh tật thành phố giám sát véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết tại xã An Lão
Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) lưu hành thường xuyên và có tính chu kỳ. Thành phố ghi nhận sự gia tăng mạnh trong các năm 2022 - 2024; riêng năm 2024 ghi nhận 23.468 ca mắc và 2.337 ổ dịch, là đợt dịch lớn nhất trong nhiều năm gần đây. Năm 2025 số mắc giảm còn 905 ca; từ đầu năm 2026 đến ngày 24/6, trên địa bàn thành phố đã ghi nhận 99 trường hợp mắc và nghi mắc SXH trong đó 83 ca được xét nghiệm khẳng định dương tính với SXHD. Mặc dù SXHD hiện ghi nhận ở mức thấp, tuy nhiên nguy cơ gia tăng vẫn hiện hữu do điều kiện khí hậu, đô thị hóa, mật độ dân cư cao, di biến động dân cư và sự lưu hành của véc tơ truyền bệnh. Các địa bàn trọng điểm gồm: Lê Chân, An Biên, Gia Viên, Hải An, Ngô Quyền, Hồng Bàng, Kiến An và An Hải.
Kết quả phân tầng nguy cơ SXHD, Trung tâm Kiểm soát vừa phối hợp với các đơn vị thực hiện cho thấy có 09 xã, phường được xác định ở mức nguy cơ rất cao, gồm: An Biên, Gia Viên, Lê Chân, Hải An, Ngô Quyền, Cát Hải, An Hải, Hồng Bàng và Kiến An. Đây là các địa bàn có mật độ dân cư cao, tốc độ đô thị hóa nhanh, tập trung nhiều khu công nghiệp, cảng biển, hoạt động giao thương lớn hoặc đã ghi nhận số mắc cao trong các năm gần đây, đặc biệt trong đợt dịch năm 2024. Có 02 xã, phường được xác định ở mức nguy cơ cao, gồm: Phù Liễn và An Dương. Đây là các địa bàn có nguy cơ gia tăng số mắc trong mùa dịch do điều kiện môi trường, dân cư và đặc điểm dịch tễ thuận lợi cho bệnh SXHD lưu hành.
Nhóm địa bàn nguy cơ trung bình chiếm tỷ lệ lớn, phân bố tại nhiều xã, phường trên địa bàn thành phố. Mặc dù số mắc ghi nhận ở mức trung bình hoặc thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ gia tăng khi điều kiện thời tiết, môi trường và véc tơ truyền bệnh thuận lợi.
Nhóm địa bàn nguy cơ thấp chủ yếu là các xã, phường có mật độ dân cư thấp, số mắc ghi nhận ít hoặc không ghi nhận ca bệnh trong nhiều năm liên tiếp và chưa xuất hiện các yếu tố nguy cơ nổi bật.
Kết quả đánh giá nguy cơ bệnh SXHD trên địa bàn thành phố Hải Phòng năm 2026 cho thấy hệ thống y tế thành phố Hải Phòng cơ bản đáp ứng được yêu cầu phòng, chống bệnh SXHD trong điều kiện dịch lưu hành thông thường và các tình huống dịch ở mức trung bình. Tuy nhiên, khi dịch bệnh gia tăng hoặc bùng phát trên diện rộng, một số khoảng trống năng lực vẫn cần được ưu tiên khắc phục.
Về nhân lực, lực lượng chuyên trách phòng, chống dịch, đặc biệt trong các lĩnh vực dịch tễ, xét nghiệm và côn trùng học còn thiếu so với nhu cầu thực tế; nhiều cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ.
Việc giám sát véc tơ, chưa triển khai giám sát kháng hóa chất định kỳ, gây hạn chế trong việc đánh giá hiệu quả các biện pháp kiểm soát véc tơ.
Hệ thống thông tin, công tác phân tích dữ liệu, cảnh báo sớm và hỗ trợ ra quyết định chưa được tự động hóa, việc rà soát, tổng hợp và xử lý thông tin dịch bệnh còn phụ thuộc nhiều vào thao tác thủ công.
Trang thiết bị và vật tư, một số máy phun hóa chất đã xuống cấp; năng lực dự phòng hóa chất, vật tư và phương tiện phòng hộ còn hạn chế khi xảy ra dịch quy mô lớn. Bên cạnh đó, kinh phí phòng, chống dịch thường được phân bổ muộn trong năm, ảnh hưởng đến việc triển khai các hoạt động chủ động trước mùa dịch.
Để nâng cao năng lực sẵn sàng ứng phó với bệnh SXHD trong giai đoạn tới, cần ưu tiên bổ sung nhân lực chuyên ngành, tăng cường giám sát véc tơ và giám sát kháng hóa chất, đầu tư hệ thống công nghệ thông tin và cảnh báo sớm, bảo đảm trang thiết bị, hóa chất, vật tư dự phòng và bố trí nguồn kinh phí kịp thời cho các hoạt động phòng, chống dịch. UBND Thành phố chỉ đạo các Sở, ngành, địa phương tiếp tục triển khai đồng bộ các hoạt động phòng, chống bệnh SXHD; tăng cường huy động sự tham gia của các cấp chính quyền, đoàn thể và cộng đồng trong công tác vệ sinh môi trường, diệt lăng quăng/bọ gậy và kiểm soát các yếu tố nguy cơ.
Ưu tiên bố trí nguồn lực cho công tác phòng, chống dịch bệnh tại các địa bàn được xác định có nguy cơ rất cao và nguy cơ cao; bảo đảm khả năng đáp ứng kịp thời khi dịch bệnh gia tăng hoặc bùng phát trên diện rộng.
Quan tâm đầu tư nâng cao năng lực hệ thống y tế dự phòng, đặc biệt đối với các lĩnh vực còn tồn tại khoảng trống như nhân lực chuyên môn, giám sát véc tơ, trang thiết bị, hóa chất, phương tiện đáp ứng dịch và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ giám sát, cảnh báo sớm dịch bệnh.
Sở Y tế chỉ đạo các đơn vị trực thuộc xây dựng và triển khai các phương án phòng, chống bệnh SXHD phù hợp với từng mức nguy cơ và các kịch bản dịch bệnh đã được xác định. Tiếp tục củng cố năng lực giám sát dịch tễ, giám sát véc tơ, xét nghiệm, thu dung điều trị và đáp ứng dịch; tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định chuyên môn tại các đơn vị. Chỉ đạo triển khai giám sát tính nhạy cảm và kháng hóa chất của véc tơ truyền bệnh; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và sử dụng dữ liệu phục vụ công tác phân tích, dự báo, cảnh báo sớm dịch bệnh
Các địa phương cần chủ động triển khai các hoạt động phòng, chống bệnh SXHD trên địa bàn; duy trì thường xuyên các hoạt động vệ sinh môi trường, loại bỏ ổ chứa nước, diệt lăng quăng/bọ gậy tại hộ gia đình và cộng đồng.
Tăng cường công tác truyền thông, vận động người dân tham gia các hoạt động phòng bệnh; kịp thời phối hợp với ngành Y tế trong điều tra, xử lý ổ dịch và triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh theo quy định.
Ưu tiên nguồn lực cho các địa bàn trọng điểm, khu vực nguy cơ cao; bảo đảm sẵn sàng huy động lực lượng tại chỗ tham gia các hoạt động xử lý dịch khi cần thiết…
Đức Thành